Đền Bà Đế là một trong những điểm đến tâm linh nổi tiếng và linh thiêng bậc nhất của thành phố Cảng. Nép mình dưới chân núi Độc, thuộc phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, ngôi đền tựa lưng vào núi, mặt hướng ra biển Đông bao la, tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình đầy mê hoặc. Chỉ cách trung tâm Hải Phòng khoảng hơn 20km về phía Đông Nam, Đền Bà Đế thu hút du khách bởi không chỉ giá trị lịch sử, văn hóa mà còn là câu chuyện bi tráng đầy cảm xúc về một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn.
Tương truyền vào những năm 1700, tại vùng Vụng Ngọc – Đồ Sơn, có một thiếu nữ xinh đẹp tên Đào Thị Hương, con gái một cặp vợ chồng họ Đào đã hai mươi năm mới sinh được. Nàng thông minh, khéo léo, hát hay, lại có tấm lòng nhân hậu. Khi chúa Trịnh Giang tuần du qua vùng biển này, nghe tiếng hát của nàng, ngài đã mê mẩn và phong nàng làm phu nhân. Thế nhưng, cuộc đời hồng nhan bạc phận khi nàng bị vu oan, chịu chết oan ức ở tuổi 18. Sau này, khi sự thật được làm sáng tỏ, người dân địa phương thương cảm, lập đền thờ để giải oan và ghi nhớ công đức của bà. Vua Tự Đức sau này còn ban sắc phong bà là “Đông Nhạc Đế Bà – Trịnh chúa phu nhân”. Câu chuyện này khiến Đền Bà Đế không chỉ là nơi thờ tự mà còn là biểu tượng cho nỗi oan khuất và lòng nhân ái của người dân miền biển.
Kiến trúc đền Bà Đế mang đậm phong cách truyền thống Việt Nam với cấu trúc đơn giản nhưng trang nhã, hài hòa. Ngôi đền được xây dựng sát mép biển, chính điện nằm ở vị trí trung tâm, xung quanh là những hạng mục phụ trợ như tam quan, sân thờ. Từ đền nhìn ra, du khách sẽ bị cuốn hút bởi cảnh sóng biển vỗ rì rào, gió biển mát lành và những con thuyền đánh cá xa xa. Sự kết hợp giữa núi non hùng vĩ và biển cả mênh mông mang đến cảm giác bình yên, tĩnh lặng, rất thích hợp cho những ai muốn tìm về chốn linh thiêng để cầu bình an, may mắn và giải trừ vận hạn.
Đền Bà Đế không chỉ thu hút bởi truyền thuyết mà còn bởi không khí tâm linh đặc biệt. Nhiều người dân và du khách tin rằng bà rất linh ứng, đặc biệt trong việc che chở cho ngư dân vùng biển Đồ Sơn tránh được giông bão, cướp biển và mang lại cuộc sống no ấm. Hàng năm, vào ngày 24, 25, 26 tháng 2 âm lịch, lễ hội Đền Bà Đế được tổ chức long trọng với các nghi thức tạ ơn, cúng cơm mới và khai xuân. Lúc này, đền trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết, người dân từ khắp nơi kéo về dâng hương, cầu nguyện và tham gia các hoạt động văn hóa dân gian.
Nếu bạn đang lên kế hoạch du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng, hãy dành thời gian ghé thăm Đền Bà Đế. Đây không chỉ là nơi chiêm bái mà còn là cơ hội để bạn cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp thiên nhiên và chiều sâu văn hóa của vùng đất cảng. Vào những buổi sáng sớm hoặc chiều tà, khi ánh nắng vàng óng chiếu xuống mặt biển và mái ngói đền, bạn sẽ hiểu vì sao nơi đây lại khiến bao du khách lưu luyến không muốn rời. Đến với Đền Bà Đế, bạn không chỉ tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn mà còn mang về những bài học sâu sắc về lòng trung nghĩa và số phận con người.
Với vị trí đắc địa, giá trị lịch sử cùng sức hút tâm linh mạnh mẽ, Đền Bà Đế xứng đáng là điểm dừng chân không thể bỏ qua khi khám phá du lịch Hải Phòng. Hãy một lần ghé thăm để tự mình cảm nhận sự linh thiêng và huyền bí của ngôi đền ven biển này.
Truyền thuyết Đền Bà Đế
Vào những năm 1700, ở phía đông nam Vụng Ngọc – Đồ Sơn có đôi vợ chồng trẻ họ Đào, suốt 20 năm chung sống, tuy làm ăn, tu tâm tích đức mà chưa có con nên đã cầu xin Trời Phật cho một mụn con. Điều tâm nguyện đã được linh ứng, người vợ đã mang thai. Tròn ngày, tròn tháng người vợ đã sinh hạ một người con gái có mùi hương thơm ngát. Vợ chồng họ Đào rất mừng, tạ ơn Trời Phật và đặt tên con là Đào Thị Hương.
Càng lớn lên, Hương càng xinh đẹp, sắc đẹp nổi tiếng khắp vùng. Hương rất khéo tay, siêng năng mọi việc. Trời cho nàng giọng hát thật hay. Tiếng hát vút cao bao la, vang, rung như tiếng ngọc, làm cho cả vụng Ngọc lung linh, huyền ảo, mỗi lần nàng cất giọng hát, chim như ngừng hót, sóng ngừng vỗ, đất trời như lặng đi để thắm đượm hết tiếng hát của nàng. Cứ thế, giọng hát của nàng đã quyện vào đất, trời, sông, biển nơi đây.
Thời gian này, vùng biển Đồ Sơn là cửa ngõ Đông Bắc rất quan trọng của Đại Việt. Thời kỳ Chúa Trịnh Doanh trị vì. Năm 1736, Chúa Trịnh Doanh về kinh lý ở vùng biển Đồ Sơn, qua Vụng Ngọc, Chúa nghe tiếng hát trong lảnh của người con gái quê, câu hát dân dã mà sao rung động lòng người liền truyền lệnh cho tìm người hát. Khi gặp, trước giai nhân sắc nước hương trời, làm nhà Chúa đắm đuối, mến yêu. Hai người quyến luyến bên nhau suốt cả tháng trời không rời xa. Khi Chúa về kinh, có hẹn nàng chờ ít ngày, Chúa sẽ đem thuyền hoa đến rước nàng về kinh. Từ đó nàng mang thai giọt máu của Chúa, trong lòng rất sợ với tục lệ… Và ngày đêm mong ngóng. Hàng Tổng biết chuyện, bắt cha mẹ nàng phạt vạ. Nhà ngèo, lấy đâu ra tiền, chúng liền trói nàng dìm xuống biển.
Nàng vật vã gào khóc, thương cho cha mẹ chưa được một ngày báo công dưỡng dục, thương cho nỗi oan tình chưa được khai hoa để báo đền ơn Chúa, nàng quì bên bờ biển ngửa mặt lên trời chắp tay than rằng: “Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống, nghĩa cha mẹ, họ hàng tôi đâu dám quên. Xin Trời Phật chứng giám cho lòng con. Khi con bị dìm xuống nước, nếu có oan ức, Trời Phật cho nổi lên ba lần, họ hàng hãy cho con được sống. Nếu con dối trá, thân này sẽ chìm xuống để làm gương cho đời”.
Quả nhiên, khi bị dìm xuống biển, nàng nổi lên ba lần. Mọi người đều thất kinh vì lời khấn của nàng đã thấu đến Trời Phật. Bọn hào lý không tha, phép vua thua lệ làng, chúng lấy dây thừng quấn nàng vào cối đá thủng, cắm sào, dìm cho nàng chết. Bỗng sóng to gió lớn nổi lên ầm ầm làm đứt dây thừng. Bọn hào lý không biết sao lần lượt lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Dân làng nói rằng chúng đã bị Trời đánh, Thánh vật.
Khi Chúa mang thuyền rồng đến đón nàng mới biết nàng đã thác oan. Biết chuyện, nhà Chúa cho lập đàn giải oan và truyền lệnh cho hàng Tổng lập Đền thờ. Sự thiêng liêng của Đền làm cho bọn cướp biển không dám lần mò tới, bọn hào lý cũng không dám trắng trợn nhũng nhiễu dân lành. Đền thờ Bà, dân cả vùng đến lễ rất đông, thương người con gái kiên trinh, tiết liệt đến cả Trời Phật cũng động lòng thương.
Nơi bà ra đi là địa danh thắng cảnh tuyệt đẹp núi biển bao la. Khi về thăm Đền, Vua Tự Đức đã ban sắc phong cho Đế Bà là: ĐÔNG NHẠC ĐẾ BÀ – TRỊNH CHÚA PHU NHÂN.
Người đời sau tiếc thương và khâm phục lòng hiếu chung của Bà đã để lại nhiều bút tích ca ngợi Bà trong Đền như: ĐẾ SƠN HÀ – MỸ TAI LINH tức Người đẹp quá nên gặp tai hoạ…
Khách đến Đền thờ Bà ngày càng đông. Trong ngan ngát trầm hoa, thoang thoảng đâu đây như mùi hương của nàng, cả giọng hát dịu êm hoà trong tiến sóng rì rầm của biển Đồ Sơn, thêm mến yêu một vùng quê đất Việt, đến đây còn để chia sẻ và đồng cảm với thân phận một người con gái xinh đẹp hiền thảo, thuỷ chung mà phải chịu niềm bất hạnh…
Khách
Chưa có bình luận nào được phê duyệt.